Thứ Tư, 14 tháng 11, 2012

Thủ tướng .

Hôm nay dân tình có vẻ bất bình với thủ tướng nhỉ ! đèo mẹ làm đến đó thì kịch mẹ đường tầu rồi , muốn nói gì chả được . Ông ấy có nói thẳng là : bố cứ ngồi ở đây đấy , thằng chó nào vào mà chiến ! vẫn im lặng là chắc . Hèn vãi lồn .
Lãnh đạo là lừa , nhân dân là bò , vì thế có hiểu nhau đâu  . thôi việc ai nấy làm . bò có chết thì lừa cũng đang bận họp . đảo mất thì ảnh hưởng đéo gì đến lừa ? bò đéo có chỗ bắt cá thì kêu , đó là lẽ thường . có gì đâu mà phải ầm ĩ .

Thứ Ba, 13 tháng 11, 2012

Ngại đọc .

Đéo hiểu sao , độ này không thể đọc được cái gì từ đầu cho tới cuối .
mấy dòng đầu , vài câu giữa , xem phần kết thế là xong mẹ nó cả bài của người ta . Tại mình lười ? hay chúng nó viết như lồn , đéo mới , chỉ toàn ôn bài , khoe nhớ dai ! chắc tại mình thôi , chứ văn nhân đéo ai lại như mình nói , nghĩ  . Đúng nhể ?

Thứ Năm, 8 tháng 11, 2012

Nhớ ba


Trưa nay đi ăn cưới con trai thằng Thái Bình, bạn học lớp cấp 3 với mình, xe thằng Hậu, cũng bạn học cấp 3, chở mình về tận cổng chung cư,  mình không muốn vào nhà ngay, bèn ra quán cà phê  ngồi một mình. Chỉ vì mình nhớ ba, nhớ quá.
Cũng tại thằng Thái Bình, nó gần sáu chục tuổi rồi mà mặt mày hảy còn non choẹt, trẻ măng. Minh trêu nó, nói mày phải làm bộ bệ vệ một chút cho vẻ ông bố chồng, không người ta nhầm mày là chú rể thì bỏ mẹ. Nói xong mình ngồi thừ, tự nhiên nhớ ba mình, ông cũng trẻ măng như thằng Bình, đến bảy chục tuổi vẫn trẻ trung, răng trắng đều tóc chải mượt. Ông đi với anh Mỹ, anh cả của mình, người ta nhầm là hai anh em, đi với anh Thắng, anh thứ sáu của mình, người ta vẫn nhầm là hai anh em.
Thằng Thái Bình chỉ xinh trai chứ không đẹp trai, ba mình đẹp trai thứ thiệt. Thị trấn Ba Đồn con trai thường đẹp hơn con gái, có ba người đẹp trai rất bền, đến già vẫn đẹp, các thế hệ sau không ai bì được, đó là ông cu Trinh, bác Ấm Đường và ba mình. Là nói chuyện đẹp bền chứ đẹp trai nhất Thị trấn vẫn là thấy Hải, thời trẻ thầy đẹp trai rực rỡ không ai bì được nhưng về già thầy phì ra, hết đẹp.
Tám anh em nhà mình chỉ có chị Nghĩa là hơi hơi giống ba một chút, hơn ba chục đứa cháu nội ngoại chỉ có thằng cu Bi hơi hơi giống ông một chút, còn lại chỉ giống ông mỗi cái mũi, hầu hết đều mang gương mặt mạ mình, không đẹp cũng chả xấu, rất chi là trung bình. Từ khi lớn tí chút, biết để ý và nhận xét, mình thấy ba mình dù ở đâu vào tuổi nào,  kể cả đến tuổi “ cổ lai hy”, mỗi bước chân của ông đều có ánh mắt phụ nữ dán ngay sau gáy, không thèm nói ngoa. Thế nhưng ông không hề có bồ, tuyệt nhiên không. Có lẽ vì ông quá nghèo, gánh nặng mười miệng ăn, nợ nần chồng chất đã làm ông không còn tâm trí nào nghĩ đến chuyện gái gú.
Ông giữ nếp nhà giáo đĩnh đạc đàng hoàng, ăn mặc rất tươm tất, áo quần là phẳng phiu thẳng nếp gấp, ra đường đói no không ai biết. Nhưng đói nghèo thật khó giấu. Đôi dép nhựa Tiền Phong ông đi gần chục năm, đi đến khi cái đế dép mỏng như tờ giấy, lủng rỗng cả một khoảng lớn ông mới chịu bỏ. Cái áo phin trắng, cái quần Ka Ki lúc nào cũng như mới tinh, ít ai biết nó được vá lót trong rất khéo. Bộ áo quần sư phạm ấy ông mặc cho đến khi chúng bợt rã ra mới thôi. Mình nhớ khi  phơi cái áo phin trắng, ông cầm áo rũ mạnh một cái, cả lưng áo bỗng rã  ra  cả vạt, ông đứng ngẩn ngơ nhìn như mất một cái gì to lớn lắm.
Ngày mình sống cùng ông  ở trường trung cấp sư phạm sơ tán lên Cao Mại, hai cha con chỉ ăn một suất cơm. Bữa nào cũng vậy, dành cơm cho mình ông ăn sắn luộc chám muối vừng. Mấy cô cấp dưỡng thấy thế thương tình, chiều chiều lại đem  rá cơm cháy cho hai cha con. Ông sẻ ra một nửa nấu cháo ăn, dành cho mình một bát cháo ăn sáng. Nửa cơm cháy còn lại ông phơi khô cất vào hũ, khoảng chín mười giờ đêm đem ra rang nhẹ, hai cha con ăn vã cùng nước chè, vừa ăn ông vừa giảng giải cho mình chuyện văn chương. Nhờ ông mình mới biết Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Xuân Diệu, Thế Lữ, Huy Cận, Vũ Trọng Phụng… đến khi vào cấp 3 học  văn các ông đó bạn bè học rất vất vả, riêng  mình thì khỏe re, hi hi.
Ở Cao Mại sắn nhiều, rẻ như cho, tuần nào ba mình cũng mang sắn về tiếp tế cho cả nhà ở làng Đông. Khi thì gánh sắn tươi khi thì bao tải sắn khô, 4 giờ chiều thứ bảy nào ông cũng mang vác gánh gồng đi bộ hơn hai chục cây số, về nhà vừa đúng 8 giờ đêm. Ông mang vác đi bộ thật kì tài, một năm hai lần cuốc bộ 700 cây số ra Hà Nội họp, cả đi lần về trên lưng luôn có một ba lô sách nặng trịch và ba chục lon gạo cùng với soong nồi bát đũa để  nấu ăn dọc đường. Ông đi như không, chẳng thấy kêu ca mệt nhọc bao giờ, chỉ khi mình cắt móng chân cho ông mới thấy tất cả ngón chân ông đều đóng sừng, riêng ngón chân út mòn vẹt hơn một nửa. Kinh.
Mùa lụt năm 67, sắp đến ngày cưới vợ của anh Huy ( anh thứ tư của mình) thì lụt về trắng đồng. Vì ngày cưới không thể trì hoãn, ba mình liều mạng lội nước băng đồng sang Quảng Thanh mua ba yến đường đen về làm kẹo lạc. Hồi này cưới xin chỉ có bánh bích qui và kẹo lạc, cả hai thứ nhà mình đều tự làm. Bánh bích qui phải làm bằng đường trắng , chỉ có 5 cân đường trắng các thấy góp phiếu đường lại cho, kẹo lạc làm đường đen vừa xấu vừa khét nhưng chẳng còn cách nào khác.
Ba mình đi lúc 10 giờ trưa đến ba giờ chiều mới về nhà, ông rũ ra vì đói, toàn thân  ướt sũng bê bết bùn đất. Đi về ngang Tô Xá ông bị sụp xuống hố bùn sâu ngang cổ, Đội trên đầu bao đường, ông không biết làm sao leo lên khỏi hố mà bao đường không bị nhúng nước. Ông đội bao đường đứng ngâm giữa nước mênh mông hơn hai giờ mới thấy có người lùa trâu đi qua. Người lùa trâu thật tốt bụng, đưa ba mình và bao đường ra khỏi hố, thấy ba mình đi không vững, ông cho ba mình ngồi lên lưng trâu đưa về đến tận ngõ. Mình nhớ như in khi ba mình vác bao đường vào nhà, nói đường đây rồi mạ mi nì. Dứt lời ông rủ xuống xỉu đi, lát sau ông từ từ ngẩng lên mắt sáng long lanh, nói bao đường còn nguyên, ôi chao may quá là may.
Bất kì rủi ro nào ông cũng tìm được may mắn để mà mừng. Hai cuộc kháng chiến  hơn hai chục lần nhà bị cháy bị bom bị phá , ông nói may quá tám đứa con vẫn còn nguyên. Đi xe đạp xuống đèo Lý Hòa bị ngã gãy chân, ông nói may quá  xe đạp cơ quan không việc gì. Lợn chết gà toi vì dịch, ông nói may quá bệnh dịch không lây lan ra cả làng. Chỉ duy nhất một lần ông không tìm được cái may nào để mà mừng ấy là lần Bác Hồ mất năm 1969. Ông nằm suốt ngày không chịu ăn uống gì, khóc ướt cả cái võng dù, ai dỗ thì nào cũng không nín.
Ông là người yêu Đảng kính Bác, tôn thờ cách mạng đến tận tủy. Không bao giờ ông đánh con, mắng mỏ thì có chứ quạt nạt cũng không bao giờ, thế mà có lần ông đã ném cả cái bát cơm vào mặt mình, chỉ vì mình “hỗn láo với cách mạng”.
 Hè năm 1976 ông cất được cái nhà ngói ba gian, nhà chỉ ba chục mét vuông thôi nhưng đấy là cái nhà khang trang nhất của đời ông. Mình học ở Hà Nội về nghỉ hè thấy ngôi nhà mừng hết lớn. Bữa cơm có chút rượu ông phấn khởi nói nhờ ơn Đảng, Bác Hồ mình mới có nhà mới đó con. Mình ngứa mồm nói sao ba không ơn ông Vĩnh Tường, ông cho mình tiền làm nhà mà. Ông ném vụt cái bát vào mặt mình, may mình tránh được. Ông ngồi ôm ngực thở dốc hồi lâu, nói không có Đảng, Bác giải phóng miền Nam, tao làm sao vô Sài Gòn gặp được ông Vĩnh Tường hả thằng ngu!
Ba mình mất năm 1987, thằng Cu Bi nhà mình được 20 ngày tuổi thì ông mất, năm đó ông 73 tuổi. Ông đi vệ sinh, vừa rời nhà vệ sinh được vài bước bỗng ngã quị. Thằng Vinh ( Nguyễn Quang Vinh) bế vào nhà. Khi đó ông vẫn còn nói năng bình thường, cậu Hằng sang nhà mượn ông mấy tờ báo Nhân dân ông còn nói chuyện thời sự rất vui vẻ. Ông cầm tay cậu Hằng tràn trề hy vọng,  nói Đảng mình sắp đổi mới rồi cậu ơi, sắp đổi mới rồi thật đó. Mắt ông ngời sáng long lanh.
 Một giờ sau ông mất. Mạ mình tưởng ông đói đi không vững nên ngã, bà vội vàng vào nấu cháo cho ông ăn. Khi mạ mình bưng bát cháo lên thì ông đã đi rồi. Cha mất ai không đau thương nuối tiếc, nhưng bình tĩnh lại mình nghĩ ông ra đi thật đúng lúc. Sau đó Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, nếu còn sống ông sẽ thất vọng biết nhường nào. Dù thế nào cuối cùng ba mình cũng đã gặp may, ông đã  thoát được  cái chết trong tuyệt vọng, Thà chết sớm nhưng là chết trong hy vọng, thế gọi là may.
Ngày giỗ ba.
NQL cọp về từ nhà Lập già .




bài này hay  , sự hy sinh và niềm tin là hai thứ khó hiểu , để cân lượng chính xác . 

Thứ Năm, 1 tháng 11, 2012

Có còn nhiều Nghị Hách, Phó Đoan...?

Cái đáng để trân trọng nhất ở con người, ở nhân cách cầm bút của Vũ Trọng Phụng là sự dấn thân.

Giông tố là cuốn tiểu thuyết thứ hai tôi đọc trong đời (sau Chuông nguyện hồn ai), năm 12 tuổi. Thời ấy, đó là sách cấm. Chiến tranh và và sự tàn khốc của nó đã làm cho việc kiếm một cuốn sách để đọc là rất khó khăn.

Bởi vậy, lũ chúng tôi đọc tất cả những gì có thể 'vớ' được: Tây du ký, Dế mèn phiêu lưu ký, Không gia đình... cho đến khi gần như thuộc lòng là chuyện bình thường.

Sao dân mình dễ bị lừa đến thế?
Trong hàng ngàn cảnh đời của cuốn tiểu thuyết được viết bởi nhà văn mới 24 tuổi ấy (1936), có một chi tiết theo tôi cho mãi đến bây giờ: Đó là chuyện Nghị Hách lừa Mịch đem rơm đến để... nhồi vào lốp ô tô(!) Tại sao người dân nước mình bị kẻ quyền thế lừa dễ dàng đến thế?
Gần nửa thế kỷ đã đi qua kể từ khi tôi tự hỏi, câu trả lời - nói theo ngôn ngữ của Louis Aragon vẫn đang ở đâu đó Nơi bến lạ bờ xa trên trái đất này...

Xã hội trong chín cuốn tiểu thuyết, chín tập phóng sự, bẩy vở kịch, 30 truyện ngắn... của Vũ Trọng Phụng là một xã hội chạng vạng (twilight - từ của nhà văn Stephenie Meyer).

Sự đan xen giữa mới và cũ, cổ và kim, phong kiến và thực dân, Á và Âu, chữ Nho và chữ Pháp..., tạo ra cả một tầng lớp đông đúc những kẻ dở ông, dở thằng. Và mọi nỗi đau của con người, của xã hội đều xoay quanh cái trục chính đó.

Từ lão nhà giàu trọc phú gian manh, dâm đãng, tàn nhẫn Nghị Hách đến bà Phó Đoan đạo đức giả đều bất chấp thủ đoạn, dùng chủ nghĩa, lý tưởng để lừa đảo một vạn đồng bạc, lạnh lùng và thích rao giảng về đạo đức. Tất cả đều làm người đọc rùng mình vì sợ hãi.

Người ta khiếp sợ bởi một xã hội vật vã qua bao nhiêu nhiễu nhương. Xã hội đó đã từng được chí sĩ Phan Chu Trinh chỉ trích thẳng thừng:

Nước Nam lâu nay học thuyết sai lầm, phong tục hư hỏng, không có liêm sỉ,không có kiến thức. Trong một làng một ấp cũng cấu xé lẫn nhau, cùng nòi cùng giống vẫn coi nhau như thù hằn....

(Dẫn theo Vương Trí Nhàn, Nhà văn tiền chiến và quá trình hiện đại hóa; chương 12, Vũ Trọng Phụng).

Mặc dù cả nhà chí sĩ và nhà văn chưa thể lý giải đủ đầy về nguyên nhân tạo ra những sự xấu xa ấy. Nhưng thấp thoáng xa mà gần, là sương khói mà rất thực, cái cội nguồn chính "đẻ" ra mọi tai họa chính là sự áp đặt văn hóa, lối sống từ bên ngoài cưỡng bức một xã hội thiếu chuẩn bị, không biết tiếp nhận và từ chối đúng cách.

Vì thế cái gì cũng học nửa vời, áp dụng nửa vời, trắng - đen lẫn lộn, giá trị đảo điên...

Sự hợm hĩnh, ngang ngược của những kẻ có quyền, có tiền trong xã hội qua ngòi bút thấm đẫm nỗi đau nhân tình thế thái của ông, thật không tả nổi.

Điển hình là "bài diễn văn, bản thông điệp" của Nghị Hách sau làm lễ thành hôn cho con gái mình lấy người yêu của vợ mình và chàng rể cũng đã thông dâm với vợ mình, tức dì ghẻ của chàng rể(!)

Tự tay làm chuyện vô luân (cha đã từng cưỡng bức người yêu của con), rồi lại dấn sâu hơn vào con đường nhơ bẩn ấy, vẫn rao giảng về đạo đức, nói về cái mới mẻ, không câu nệ - hàm ý khoe rằng lão đã dám "sáng tạo" ra công thức mới của sự... vô sỉ!

Sự vô sỉ lên đến "đỉnh cao" đã được ngòi bút tài năng của Vũ Trọng Phụng làm cho người đọc luôn cảm thấy bức bối. Nhưng đọc Vũ Trọng Phụng những năm tháng này, người ta sẽ nghĩ gì vè những thông tin lá cải "cướp, giết, hiếp" nhan nhản đầy rẫy trên các báo?
Bao giờ nỗi đau "hàn miệng, lên da"?
Đáp lại sự phê phán của một số người cho rằng văn chương của mình trần tục, thô bạo quá, Vũ Trọng Phụng trả lời báo Ngày nay rằng: "Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết. Tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi, muốn tiểu thuyết là sự thực ở đời (...).

Như vậy, với tuyên ngôn chống lại dối trá, Vũ Trọng Phụng đã không sợ mất lòng mặc dù ông biết như thế là nguy hiểm. Đồng hành với nỗi đau theo nghĩa về cả cuộc đời, thể xác, tư tưởng văn chương là "cái định mệnh" đã và sẽ làm nên sức sống cho văn ông.

Ông yêu thương con người thiết tha, nên mới làm cho hàng triệu người nhức buốt và xót xa đến thế trước những nỗi bất hạnh của tầng lớp dưới đáy.

Hơn 20 tuổi đời mà đã "kịp" mang đến cho xã hội bài học về lẽ đời như thế nào. Con tim dám nói sự thật, dám dấn thân của một nhà văn tuổi còn quá trẻ, quả thật, hiếm có...
Không ai phủ nhận trong các trang viết của ông, yếu tố tình dục chiếm một phần rất lớn, một phần của nhu cầu làm đĩ. Đã có thời người ta lên án gay gắt thủ pháp tôn vinh tình dục trong các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, nhưng như ông đã nói- ai cũng nghĩ đến nó nhưng chẳng ai dám thú nhận vì đạo đức giả.

Ngay cả bây giờ, hàng ngày báo chí vẫn nói đến rất nhiều (thậm chí là vô cùng nhiều) những vấn nạn xoay quanh tình dục...

Cần nhấn mạnh rằng, dù có làm đĩ, Huyền vẫn được người đọc thương cảm và tôn trọng. Chứ không đến nỗi như gần đây, trước thông tin thả hàng trăm phụ nữ mại dâm, một vài người đã vội khinh rẻ, đánh đồng họ với muông thú khi dùng cụm từ "thả gà ra đuổi"... Nỗi đau của con người trong các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng thường được gọi là hiện thực phê phán.

Vậy thì lý giải ra sao khi Xuân tóc đỏ trở thành một "thành ngữ" về một kẻ vô học cơ hội, lươn lẹo; khi "Hòa đại nhân' (trong Tể tướng Lưu gù) có nhan nhản trong đời?

Vương Trí Nhàn đã nhận xét rất xác đáng về xã hội thời của Vũ Trọng Phụng để chúng ta rọi chiếu:

Cả kẻ vô học như Xuân lẫn bọn có học như Văn Minh đều sống bằng lừa bịp, ai giỏi lừa người đó thắng. Và cuộc sống của xã hội hiện đại đồng nghĩa với sự tàn phá nhân cách, làm hỏng con người.

Thiếu hẳn những kẻ có tài năng cũng như có tấm lòng, tức cũng là thiếu hẳn những con người xứng đáng để chúng ta kính trọng.

Nhưng những đảo điên, băng hoại đạo lý xã hội của gần 80 năm trước đây liệu có tồn tại trong xã hội ngày nay không? Hay ngày nay, chúng ta cũng đang phải đối mặt, mổ xẻ, và hàn "miệng những nỗi đau" đó? Trong trường hợp này, tầm nhìn của Vũ Trọng Phụng, khi mới hơn 20 tuổi, quả là "đi trước thời đại".
Ngòi bút dấn thân

Những câu văn của Vũ trọng Phụng như những dòng suối bức bối trên cao thượng nguồn - chúng len lỏi, vượt qua mọi trắc trở để đến với lòng người. Để ngày mỗi ngày hóa thành biển mặn đẫm nước mắt trong trái tim người.

Rất nhiều nhà phê bình văn học đã bàn về thi pháp độc đáo của Vũ (riêng tôi là người dạy sử, và bài này là bài đầu tiên trong đời mạo phạm động đến vườn văn). Nhưng có lẽ, theo tôi, cái đáng để trân trọng nhất ở con người, ở nhân cách cầm bút của Vũ Trọng Phụng là sự dấn thân.

Là sự sẵn sàng chấp nhận tất cả để hiểu rõ, hiểu đúng để chia sẻ với số phận bi thương của những con người dưới đáy của xã hội. Người Anh có câu thành ngữ "Read between the lines"- đọc giữa những hàng chữ để hiểu nhiều hơn điều tác giả muốn nói, còn giấu kín để hiểu rõ cái ý nghĩa mênh mông của sự khắc khoải ngôn từ.

Đọc Vũ Trọng Phụng, ngay cả bây giờ cũng khó hình dung nổi những trang viết của người thanh niên mới hơn 20 tuổi (tính từ những tác phẩm đầu tiên những năm 1931-1932). Làm sao có thể thành hình, làm sao chất liệu sống lại ngồn ngộn sự phi thường của hiểu biết đến thế?

Ta như nghe thấy trong tiếng mưa rơi mà ông tả ướt đẫm nước mắt. Những dằn vặt nội tâm của nhân vật như có tiếng gào thét của trái tim oan ức, đớn đau. Những mảnh đời bị xé vụn, tả tơi trong cái giả dối, trong cái tàn nhẫn, vô cảm của sự bịp lừa...

Hơn 20 tuổi đời mà đã "kịp" mang đến cho xã hội bài học về lẽ đời như thế nào. Con tim dám nói sự thật, dám dấn thân của một nhà văn tuổi còn quá trẻ, quả thật, hiếm có...

Vũ Trọng Phụng coi: Văn chương là một phương tiện tranh đấu của những người cầm bút muốn loại khỏi xã hội con người những bất công. Nhen lên trong lòng người nỗi xót thương đối với kẻ bị chà đạp lên nhân phẩm, kẻ yếu, kẻ bị đày đoạ ... Tôi sẽ cố gắng nhìn vào những nỗi đau của xã hội, may ra tìm được những thuốc khiến những cái ung đó có thể hàn miệng, lên da".

Người viết bài chỉ xin có được ít dòng để điểm nhớ, dâng hương cho một văn tài yểu mệnh phi phàm. Dù không muốn, cũng phải nói rằng, chừng nào chúng ta còn đau đớn nhiều về con người trong xã hội Vũ Trọng Phụng mô tả, thì chừng đó chứng tỏ rằng cái bi kịch xã hội vẫn còn nguyên vẹn.

Hà Văn Thịnh - Tuanvietnam
Khẳng định luôn , lão phu đéo thích lão này , do nhiều lúc y nói văng mạng làm lão phu ghét . tuy nhiên bài này được , nó chứng minh cho những con bò là lừa quốc đéo tử tế gì , khốn nạm là đằng khác , từ trước lúc Đảng vĩ đợi ra đời . Nhiều bò ! cái gì xấu là đổ ngay cho đảng mà đéo biết rằng khốn nạn , lường gạt có từ lâu rồi  ,  thuộc về dân tộc tính . Địt mẹ lũ bò ngu lại khoe mình biết đọc sách .

Thứ Hai, 29 tháng 10, 2012

Đừng say bằng rượu rẻ tiền

Sách của Mạc Ngôn chắc chắn bán chạy hơn ở Nhật sau khi ông giành Giải Nobel Văn chương năm nay. Nhưng nếu một ứng viên sáng giá khác, nhà văn Nhật Murakami Haruki, trúng giải, điều tương tự sẽ không xảy ra tại Trung Quốc. Trong bối cảnh của vụ xung đột Trung – Nhật liên quan đến chủ quyền tại Quần đảo Senkaku (Điếu Ngư) và Takeshima (Độc Đảo), người Trung Quốc rầm rộ biểu tình chống Nhật, nói “Không” với hàng Nhật và tẩy chay cả văn hóa, nghệ thuật Nhật.Phim Hồng Kông rút khỏi một Liên hoan phim Quốc tế tại TokyoSách của Murakami bị loại khỏi các nhà sách ở Đại lục. Ông Lâm Thiểu Hoa (林少华), người đã dịch 33 tác phẩm của Murakami sang tiếng Trung và góp phần không nhỏ làm nên danh tiếng của nhà văn này tại Trung Quốc, tuyên bố trên trang Vi Bác (Weibo) của mình rằng ông ủng hộ việc đình chỉ lưu hành tác phẩm của nhà văn Nhật, và tuy điều đó ảnh hưởng đến sở thích văn học của cá nhân ông, nhưng lợi ích dân tộc phải được đặt lên hàng đầu. Chủ nghĩa dân tộc, mẫu số chung của những người Trung Quốc khác nhau nhất, dường như là một đại lượng tinh thần tuyệt đối không cần bàn cãi.Đối lại với không khí cuồng nộ đó,1300 văn nghệ sĩ và trí thức Nhật Bản, trong đó có văn hào Ōe Kenzaburo, Giải Nobel Văn chương 1994, đã lên tiếng kêu gọi cả hai bên tự kiềm chế. Trong bài tiểu luận đăng trên tờ Asahi Shimbun ngày 28-9-2012, nhà văn Murakami Haruki đã trực tiếp phát biểu về chủ đề gay cấn này. 

Xung đột biển đảo Việt – Trung nằm trong một bối cảnh khác xung đột Trung – Nhật, không những về lịch sử mà trước hết về những ràng buộc chính trị hiện tại. Nhưng quan điểm và thái độ của Murakami rất đáng cho những người Việt quan tâm suy ngẫm. 

Giữa thời điểm những cuộc biểu tình liên quan đến xung đột ở Quần đảo Senkaku (Điếu Ngư) đang diễn ra một cách dữ dội và căng thẳng thì tin tức về việc các tác phẩm Nhật Bản đang bị loại khỏi các nhà sách Trung Quốc làm người viết bài này cảm thấy sửng sốt. Tuy nhiên, hiện nay còn chưa rõ hành động này là một phần của chính sách cấm vận do chính phủ Trung Quốc đưa ra hay do các nhà sách tự ý tiến hành. Vì thế tạm thời tôi sẽ không đưa ra ý kiến của mình về vấn đề này. 
Tôi tin rằng trong tất cả những sự phát triển của châu Á trong những năm gần đây thì sự hình thành và trưởng thành của cái được biết đến như là “nền văn hóa châu Á” cho đến nay là thành tựu vĩ đại nhất. Không nghi ngờ gì rằng chất xúc tác cho quá trình trưởng thành đó chính là sự phát triển đột phá và mạnh mẽ của những nước như Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan. Và cùng với sự ổn định kinh tế, sự trưởng thành và đơm hoa kết trái của quá trình sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa và nghệ thuật, bên cạnh việc thiết lập những tiêu chuẩn được kì vọng là tối hảo, để mỗi nước có thể tự do trao đổi những sáng tạo văn hóa có một không hai của mình ra khắp thế giới. 
Trung thành với những giá trị và luật lệ được mọi người chia sẻ, hiện nay chúng ta có thể hoạt động mà không ăn cắp bản quyền đến mức làm người ta phải kinh ngạc như đã từng xảy ra trước đây (hay ít nhất cũng đã giảm được ảnh hưởng của nó!). Khái niệm trả bản quyền và “ứng trước” cho công việc sáng tạo đã được mọi người ở châu Á công nhận, và ở nước nào chúng ta cũng có thể tự do trao đổi theo lối tiền-hàng một cách hợp pháp và công bằng. 
Từ kinh nghiệm của tôi trong lĩnh vực này mà nói, đấy là một đoạn đường dài và phải mất khá nhiều thời gian chúng ta mới đến được vị trí như ngày nay. “Thị trường Đông Á”, như chúng ta gọi hiện nay, đã trải qua giai đoạn thụ thai, thai nghén và trưởng thành khá dài. Không muốn đổ thêm dầu vào lửa (có nguy cơ gây thêm khó chịu, trong khi căng thẳng đã quá cao rồi!) tôi sẽ tránh nhắc tới những ví dụ quá cụ thể, nhưng cái thị trường mà chúng ta, những người Đông Á, đang cùng nhau sống trong đó, là một thực thể hoàn toàn khác so với hai mươi năm trước đây và đã được cải thiện khá nhiều. Nó đã ổn định hơn rất nhiều. Vẫn còn một số vấn đề nhỏ, nhưng hầu như mọi người đều có thể xem, đọc hầu hết các bộ phim, tác phẩm văn học, nhạc và chương trình truyền hình một cách tự do và hợp pháp. 
Đấy đúng là một thành tựu tuyệt vời mà chúng ta đã đạt được cho chính mình. 
Xin lấy mức độ phổ biến không thể tin nổi của các chương trình truyền hình Hàn Quốc làm ví dụ, thông qua phương tiện thông tin đại chúng này, người dân Nhật Bản càng ngày càng trở nên quen thuộc với dân tộc lân bang và thái độ đối với đất nước đó cũng thay đổi rất nhiều; nói ngắn, Hàn Quốc không còn quá xa lạ như trước đây nữa. Hơn thế nữa, nhờ tình cảm thân mật mới hình thành với đất nước này mà trong thời gian gần đây số người Nhật học tiếng Hàn cũng gia tăng vùn vụt. Trong khi đó, người Hàn Quốc cũng quen dần với cách suy nghĩ của chúng ta và hiện nay họ cũng có nhiều cơ hội tiếp xúc với nhiều hình thức của văn hóa và phương tiện truyền thông Nhật Bản hơn là trước đây. 
Trong thời gian làm việc ở một trường đại học Mĩ, tôi được gặp nhiều sinh viên Trung Quốc và Hàn Quốc, nhiều người trong số họ nói rằng đã làm quen với tác phẩm của tôi. Những thanh niên này thường đến văn phòng của tôi, và nhờ những trải nghiệm mà chúng tôi cùng chia sẻ trong lĩnh vực văn học, chưa lần nào chúng tôi phải đánh nhau để thảo luận. Bất chấp những đường biên giới quốc gia và rào cản ngôn ngữ, vẫn có tình bằng hữu và sự tin cậy. 
Việc thiết lập được môi trường văn hóa tự do giao lưu như thế ở châu Á là kết quả của nhiều năm hay công sức của biết bao nhiêu người, trong đó có tôi, những người đã dành hết trái tim và khối óc của mình cho công việc sáng tạo. Mặc dù có nhiều việc chưa thể làm, tôi vẫn kiên trì. Sau khi đã có những thành quả như thế – tạo ra môi trường, trong đó văn hóa và tư tưởng có thể được trao đổi một cách tự do – cùng với sự tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau, tôi tin rằng những vấn đề xảy ra gần đây giữa các nước chúng ta sẽ được giải quyết một cách nhanh chóng. 
Muốn chia sẻ và cảm nhận văn hóa của nhau, đầu tiên và quan trọng nhất là chúng ta phải công nhận sự kiện là tất cả chúng ta đều là con người. Và dù nói bằng ngôn ngữ nào đi nữa, tất cả chúng ta đều trải nghiệm và được thúc đẩy bởi cùng những tình cảm như nhau. Những tình cảm đó là cái tạo ra và định hình chính chúng ta. Mục tiêu của chúng ta – thông qua trao đổi văn hóa – là thúc đẩy khái niệm này. Việc trao đổi giữa những nền văn hóa của chúng ta cũng giống như gửi tâm hồn của chúng ta qua biên giới và biển cả để người dân các quốc gia khác có thể trải nghiệm và tìm hiểu văn hóa của chúng ta, cũng như chúng ta có thể tìm hiểu văn hóa của họ vậy. 
Là một người Nhật, đồng thời cũng là một nhà văn, tôi sợ rằng những tranh cãi gần đây về quần đảo Điếu Ngư và thậm chí những rắc rối liên quan tới Quần đảo Takeshima (Độc Đảo), sẽ phá hủy cái thế giới văn hóa mà tất cả chúng ta phải vất vả bao nhiêu năm trời mới tạo dựng được, và sẽ đào tung cái con đường mà chúng ta đã xây dần dần, bằng từng viên gạch một. 
Đáng tiếc là, trong khi cái gọi là biên giới quốc gia vẫn còn tồn tại, những vấn đề và những cuộc tranh chấp về lãnh thổ và quyền sở hữu có lẽ là không thể tránh khỏi. Đấy là những vấn đề thực tế mà chúng ta phải đối mặt. Những vấn đề đó đòi hỏi và phải được giải quyết bằng những giải pháp thực tế và không bao giờ được nghĩ khác. Khi những vấn đề như thế xuất hiện, bản chất của vấn đề rất dễ bị bỏ qua và niềm tự hào dân tộc thường bị dính líu vào. Những vết thương cũ dễ bị moi ra và tình cảm bị tổn thương, nhưng nếu những luận cứ như thế được đưa ra thì chúng ta sẽ thấy mình đã lạc vào khu vực nguy hiểm, không dễ tìm được đường ra. 
Những tranh cãi được bơm bằng nộ khí kiểu này có khác gì say bằng những loại rượu rẻ tiền – chúng ta sẽ bị ngộ độc rất nhanh, giọng của chúng ta sẽ to lên, còn ngôn ngữ thì khó nghe hơn. Hành vi của chúng ta có thể trở thành bạo lực, còn tư duy của chúng ta, mặc dù thường là bình tĩnh và đầy lí trí, trở thành đơn giản và chỉ còn dựa vào bản năng thấp hèn mà thôi. Chúng ta bắt đầu tập trung vào những tình cảm và ước muốn thầm kín nhất, lặp đi lặp lại chính mình và không còn chỗ cho tư duy logic nữa. 
Nhưng khi những vụ nổi loạn chấm dứt và tiếng hò hét lặng đi thì còn lại với chúng ta chỉ là cơn liệt rượu hoành hành. 
Chúng ta có nhiệm vụ bảo vệ mình, không để các chính khách kích động. Chúng ta cũng phải cảnh giác như thế khi gặp những anh chàng cứ muốn chuốc cho chúng ta những loại rượu rẻ tiền, những kẻ luôn mồm hò hét và khuyến khích chúng ta làm những việc như họ, chúng ta phải giữ vững lí trí và không để người khác kích động. Trong suốt những chiến dịch trong những năm 1930, trong khi tranh luận về kết quả cuối cùng, Adolf Hitler, mang theo thông điệp rằng cơ sở hành động của đảng của ông ta là giành lại những vùng lãnh thổ đã mất trong Thế chiến I và trở lại với địa vị vinh quang, xứng đáng trước kia. Và tất cả chúng ta đã biết kết cục của chuyện đó như thế nào… Cuộc tranh cãi hiện nay về Quần đảo Senkaku phải được tiến hành một cách bình tĩnh và bằng một cái đầu sáng suốt, chúng ta phải xem xét một cách thận trọng mình đã rơi vào tình huống này như thế nào, vì sao mà chúng ta đã để cho tình hình trở thành không kiểm soát được như thế. 
Các viên chức chính phủ và những nhà bình luận chính trị rất có tài trong việc đưa ra những bài diễn văn có tính chất xúi giục và cảm động, những lời bình luận đánh trúng vào tình cảm của nhân dân, nhưng trên thực tế, họ không bao giờ phải chịu rủi ro. Chính chúng ta, chính nhân dân mới là những người phải đi vào những nơi có xung đột và cuối cùng là phải chịu đau khổ. 
Trong cuốn tiểu thuyết Biên niên kí chim vặn dây cót của tôi, tôi đã dựa vào những sự kiện có thật trong thời kì Nhật chiếm đóng Mãn Châu trong Thế chiến II. Những trận đánh ở đây, dù tương đối ngắn nhưng rất tàn bạo, đã làm chết hơn 20 ngàn người Nhật, người Nga và người Mông Cổ. Tất cả chỉ vì biên giới và lãnh thổ. 
Sau khi hoàn thành cuốn tiểu thuyết, tôi đã đến những khu vực xảy ra chiến trận để tự mình nhìn thấy vùng đất đó. Đứng giữa hoang mạc cằn cỗi và rộng lớn đó, nơi vẫn còn vương vãi vỏ đạn, thùng đựng đạn dược và đồ dùng của binh sĩ, tôi cảm thấy mình thật là yếu đuối. Một ý nghĩ cứ trở đi trở lại trong tâm trí tôi: “Vì sao lại có nhiều người đến cái vùng đất hoang vu, chẳng có gì như thế này và giết nhau một cách vô tâm đến như thế?” 
Như tôi đã nói ngay từ đầu bài viết, tôi không định bình luận về việc sách Nhật bị loại khỏi các nhà sách ở Trung Quốc. Đấy là vấn đề mà người Trung Quốc phải tự giải quyết, và sẽ là như vậy cho đến khi mọi chuyện kết thúc. Nhưng là một nhà văn, dĩ nhiên là tôi cảm thấy rất buồn, nhưng tôi chẳng thể làm được gì. Điều tôi có thể nói là tôi xin mỗi người trong các bạn hãy tự kiềm chế, và đừng tham gia vào bất kì hành động trả đũa nào. Ngay khi chúng ta trả đũa hay chuẩn bị có hành động như thế là chúng ta tự làm hại chính mình. Khi chúng ta hành động một cách vội vã là chúng ta gây ra vấn đề cho chính mình và chính chúng ta sẽ phải giải quyết hậu quả. 
Nhưng nếu chúng ta tỏ ra kiềm chế và thể hiện một cách điềm tĩnh rằng chúng ta đánh giá cao, chúng ta tôn trọng và tiếp tục yêu mến những gì chúng ta đã đạt được sau nhiều năm lao động cần cù thì chắc chắn là cuối cùng chúng ta sẽ được tưởng thưởng. Điều này, thưa các quý bà và quý ông, là hoàn toàn trái ngược với say bằng loại rượu rẻ tiền. 
Say xỉn vẫn xảy ra. Nhưng chúng ta không được ngăn chặn việc trao đổi tâm hồn, tức là giao lưu văn hóa. Chúng ta không được phá hủy những con đường mà biết bao người đã bỏ nhiều công sức mới xây dựng được. Từ nay trở đi, dù có bị thương tổn đến mức nào, chúng ta cũng phải tìm cách giữ lấy con đường này và tiếp tục để cho nó mãi phong quang.
 Nguồn: Dịch theo bản tiếng Anh của Philip Kendall . Bài này hay .tuy hơi dài và lão phu cóp từ QLB về .. Phải nói là để phân biệt được như tác giả khuyến cáo quả là khó đối với bọn hán mọi và dân lừa . tiền có thể kiếm rất nhanh nhưng văn hóa thì lại được tích lũy rất từ từ và không có cách nào nhanh được . Buồn như buồi .

Dựa vào đâu mà đòi dân góp vàng ?

2 năm trước, một bức ảnh do nhà sử học lừng danh Dương Trung Quốc sưu tầm được ở Pháp về “tuần lễ vàng 1945” đã gây ra sự xúc động trong dư luận. Đó là một bức ảnh chụp cảnh người dân đi đóng góp tiền, vàng cho quốc gia “đông như hội”. Sau ngày độc lập, ngân khố quốc gia bấy giờ chỉ còn lại 1,2 triệu đồng Đông Dương. Và trong thư gửi đồng bào cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói tới “sự hy sinh”. Tuần lễ vàng sẽ tỏ cho toàn quốc đồng bào và cho toàn thế giới biết: Trong khi các chiến sĩ quyết hy sinh giọt máu cuối cùng để giữ vững nền tự do độc lập của nước nhà, thì đồng bào ở hậu phương cũng có thể hy sinh để phụng sự Tổ quốc.
Chỉ trong vòng 7 ngày, đồng bào cả nước đã quyên góp được 20 triệu tiền Đông Dương và 370kg vàng. Quy đổi theo tỷ giá 400 đồng Đông Dương 1 lạng vàng thì tuần lễ vàng 1945 đã quyên góp được 59.618 lạng vàng, bằng 10 lần số tiền trong nhà băng Đông Dương khi giành lại chính quyền ở thủ đô Hà Nội.
Những nhà sử học sau này, nhìn con số đó để nói về một “kỳ tích”. Nhưng thứ kỳ tích lớn nhất mà sử sách không thể không ghi. Đó là kỳ tích lòng dân. Kỳ tích về sự hy sinh không có giới hạn. Chưa bao giờ người dân sẵn sàng hy sinh đến thế thế. Chưa bao giờ người dân và Chính phủ lại đồng lòng như thế.
Hôm qua, hơn 60 năm sau “tuần lễ vàng 1945”, Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến đã đăng đàn QH nhắc lại chuyện “gia đình dòng họ tôi góp vàng cho Chính phủ” từ những ngày đầu lập quốc, để kêu gọi nhân dân, trong phạm trù “cả hệ thống chính trị” cần “vào cuộc” cùng với Chính phủ trong thời buổi khó khăn này, dù bà không nói rõ về sau này “dòng họ, gia đình” có tiếp tục đóng góp vàng cho Chính phủ.
Lời kêu gọi của bà Bộ trưởng không sai. Chỉ có điều, lời kêu gọi đó rơi tõm trong sự im lặng, không một lời hưởng ứng. Cũng giống y như chuyện Thống đốc cam kết giữ hộ vàng cho dân. Cũng rơi tõm vào sự thất bại.
Lý do tất nhiên hoàn toàn không phải là vì dân không còn tiền, còn vàng.
Thực tế, người dân chưa bao giờ đứng “ngoài cuộc” với những khó khăn của quốc gia, của đất nước. Bản thân việc họ hàng ngày vẫn nai lưng ra làm để kiếm miếng ăn cho bản thân, cho gia đình mang lại sự phồn vinh cho xã hội đã là một sự “giúp sức” cùng Chính phủ . Bản thân việc những người dân của một quốc gia thuộc về phạm trù “thế giới thứ ba” đang phải chịu một mức thuế, phí cao gấp 2-3 lần khu vực, không một lời kêu ca, cũng đã đáng coi là một thứ hy sinh. Bản thân những người nông dân vẫn đang loay hoay với chuyện áo cơm để làm nên kỳ tích xuất khẩu 7 triệu tấn gạo, nhiều nhất thế giới, và cũng rẻ nhất thế giới, dường như cũng không thể gọi khác hơn là cống hiến.
Và họ đã được hưởng những gì để tiếp tục “vào cuộc”!? Và họ còn gì nữa để có thể “chung sức”!?
Có một câu chuyện thú vị liên quan đến “tuần lễ vàng 1945” mà những bức ảnh tư liệu còn lưu lại được. Đó là hình ảnh cựu hoàng Bảo Đại, bấy giờ mang tên công dân Vĩnh Thụy, đứng phát biểu trong buổi đấu giá bức tranh chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hôm bế mạc Tuần lễ Vàng. Bức tranh chân dung Hồ chủ tịch, với giá khởi điểm 10.000 đồng Đông Dương (khoảng 25 lạng vàng) đã được mua với giá 100.000 đồng Đông Dương. Và người mua là phu nhân nhà tư sản yêu nước Trịnh Văn Bô. Mở ngoặc đơn, ông bà Bô cũng là những người đóng góp nhiều nhất cho Chính phủ: Hơn 5.000 lượng vàng.
Năm 2003, sau đúng nửa thế kỷ, sau đủ sự can thiệp của 4,5 đời các vị nguyên thủ quốc gia, bà Bô mới đòi được lại căn nhà từng cho nhà nước mượn.
Có lẽ, sẽ chẳng bao giờ còn có một tuần lễ vàng. Và ngoài bức chân dung ông Cụ 60 năm trước, cũng chẳng có một bức chân dung nào được bán đấu giá nữa. Vì đơn giản sẽ chẳng bao giờ có thêm một “niềm tin bà Bô”, dù lòng dân, sau hơn nửa thế kỷ, có lẽ không hề thay đổi. bài của Đào Tuấn nhưng lão phu cop từ Lập già . Đến bao giờ mới lại có người đủ uy đề gom vàng trong dân nhỉ , đèo mạ có khi phải lão phu ra mặt mất thôi . hố hố .

Chủ Nhật, 28 tháng 10, 2012

Nông dân thông minh mới giàu


(Dân Việt) - Nếu ai đã từng sang châu Âu như Pháp, Đức... sẽ cám cảnh một điều: Tại sao đi ô tô suốt ngày giữa đồng nho, đồng hướng dương, không gặp một bóng nông dân. Không biết họ làm lúc nào, làm như thế nào...

Có vẻ như họ chỉ đi du lịch, ăn chơi mà vẫn giàu nứt đố đổ vách. Còn ở nước ta, thiên nhiên ưu đãi, mặt trời chiếu sang quanh năm, nông dân quần quật suốt ngày, đầu tắt mặt tối mà vẫn không đủ ăn!
Nước Pháp với trên 50 triệu dân có tới 14 vùng trồng nho chỉ chiếm 3% diện tích đất trồng trọt, mỗi năm xuất khẩu 6 tỷ USD rượu vang. Nước ta có 80 triệu dân, dành ra 61% diện tích trồng trọt để trồng lúa. Vậy mà cũng chỉ xuất khẩu được non 7 triệu tấn gạo (2011) với khoảng 3,5 tỷ USD, bằng một nửa kim ngạch rượu nho của Pháp. Hèn chi chỉ thấy người Pháp làm chơi mà ăn thật!
Làm chơi là một cách nói chứ thực ra là người ta làm nông nghiệp có năng suất cao. Nông dân Pháp chưa chắc đã cần cù hơn nông dân ta nhưng họ thông minh hơn là điều khó cãi. Cho nên nông dân không thể cứ lấy cần cù bù thông minh mãi mà phải nghĩ ngược lại, lấy trí thông minh để đỡ đổ mồ hôi nước mắt.
Anh Minh ở Đồng Nai bỗng dưng xin thôi nghề kỹ sư tin học, trở về làm nông dân. Anh bắt đầu bằng cái nghề nuôi trùn quế trước con mắt nghi ngờ của gia đình và bạn bè. Nhưng nay anh đã giàu sau vài năm làm lụng và có thương hiệu tin cậy. Chỉ riêng việc nuôi trùn quế thôi đã có hàng trăm nông dân trên đất nước đổi đời một cách kỳ diệu. Ông Nguyễn Văn Lý ở Bắc Giang, là bệnh binh. Từ năm 2008 ông bắt đầu nuôi giun, vậy mà mỗi năm ông thu nhập bình quân từ 180 - 200 triệu đồng!Đó là những người nông dân thông minh đang làm nông nghiệp thông minh! Số người đó trong nông thôn rất nhiều. Họ có được sự thông minh là do chịu đọc, chịu học mà thôi . nguyen quang than. địt mẹ thằng thân này ,quá láo , bố đang bận , lát rảnh cho mày hiểu thế nào là nông dân ,địt con mẹ mày . Thân chó này ! Mày sống với bọn nông dân pháp bao lâu rồi mà bỏa nó thông minh hơn ? chắc du lich bằng tiền ăn cướp của doanh nghiệp ,ngồi xe hơi chạy vài vòng vè nói như cụ non hả địt mẹ mày . ở đây đéo có ai khôn hơn mà chỉ do cách làm ,khác nhau thôi , bọn quan pháp nó có tâm , công an nó đéo bênh ai , nên nông dân và doanh nghiệp mới có cơ phát triển , nếu cho thằng nông pháp vào làm ở VN với cơ chế hiện nay , bảo đảm chết trương thây ngay , ỉa vào mồn thằng Thân . sau khoán 10 nông dan VN xuất gạo thừa ăn , bán còn đéo kịp . vậy do đâu ? thằng ngu kia ! quan lại VN toàn mua chức ,công an chỉ nghe theo lệnh thằng có tiền ,pháp luật chỉ để làm cảnh và dọa thằng nông dan .vậy làm kiểu gì ? con chó dại Thân kia .  Thời thế tạo anh hùng ,  nếu tạo ra thế thuận lợi để người nông dân VN sx thì kết quả sẽ được ghi vào kỷ lục thế giới . à mà nông dân  VN bị mày gọi là không thông minh ấy rất tiếc lại đẻ ra mày đấy ,địt mẹ thằng khốn nạn ,ăn học cho lắm vào rồi théo bọn tham quan bán mồ mả ông bà đổi lấy miếng ăn .địt mẹ mầy .